BIỆN PHÁP CHỐNG ĂN MÒN CLORUA CỐT THÉP TRONG BÊ TÔNG

GIỚI THIỆU GIẢI PHÁP CHỐNG ĂN MÒN CLORUA CỐT THÉP
TRONG BÊ TÔNG Ở MÔI TRƯỜNG BIỂN VIỆT NAM
BẰNG CHẤT ỨC CHẾ CANXINITRIT
TS. PHẠM VĂN KHOAN
TS. NGUYỄN NAM THẮNG
Viện KHCN Xây dựng

1. Đặt vấn đề
Trong môi trường biển Việt Nam, do đặc thù điều kiện khí hậu nóng ẩm chứa hàm lượng ion Clcao
nên kết cấu bê tông cốt thép (BTCT) thường bị ăn mòn và phá huỷ nhanh, đặc biệt nghiêm trọng
là vùng nước lên xuống, vùng khí quyển biển và ven biển. Kết quả khảo sát thực tế cho thấy các
công trình BTCT sau một thời gian sử dụng đều có dấu hiệu gỉ cốt thép ở mức độ khác nhau không
đảm bảo tuổi thọ công trình [1, 2]. Vì vậy cần thiết phải làm rõ thực trạng và tìm các giải pháp bảo vệ
chống ăn mòn clorua cho kết cấu BTCT phù hợp điều kiện đặc thù Việt Nam.
2. Thực trạng ăn mòn clorua cốt thép trong bê tông trong môi trường biển Việt Nam
Các số liệu khảo sát cho thấy một đặc điểm chung về ăn mòn clorua kết cấu BTCT ở vùng biển
nước ta thường chỉ xảy ra ở vùng nước thuỷ triều lên xuống và sóng đánh, khí quyển trên biển và
vùng khí quyển ven biển. Mức độ ăn mòn nhanh và mạnh nhất là vùng sóng táp cách mặt nước biển
khoảng 0,8  1,5 m.
Có thể khái quát hoá thực trạng ăn mòn BTCT trong vùng biển Việt Nam như sau:
Ăn mòn BTCT là hiện tượng phổ biến và là nguyên nhân chủ yếu gây phá huỷ kết cấu BTCT và
làm giảm đáng kể tuổi thọ các công trình xây dựng ở vùng biển.
Tình trạng ăn mòn và hư hỏng các công trình BTCT là nghiêm trọng và đã tới mức báo động. Tốc
độ ăn mòn làm hư hỏng công trình diễn ra khá nhanh. Hiện nay bên cạnh một số công trình có tuổi
thọ trên 30  40 năm, có nhiều công trình đã bị ăn mòn và hư hỏng nặng chỉ sau 20  25 năm sử
dụng, thậm chí nhiều kết cấu bị phá huỷ nặng nề chỉ sau 1015 năm sử dụng.
Thiệt hại do ăn mòn gây ra là đáng kể và nghiêm trọng, chi phí cho sửa chữa khắc phục hậu quả
ăn mòn có thể chiếm tới 30  70% mức đầu tư xây dựng công trình.
Dự báo trong giai đoạn tới, nhu cầu đầu tư xây mới và sửa chữa công trình ở vùng biển sẽ rất
lớn. Vì vậy, cần kịp thời triển khai công tác phổ biến các giải pháp kỹ thuật chống ăn mòn nhằm đảm
bảo chất lượng và tuổi thọ lâu dài cho công trình.
3. Các giải pháp chống ăn mòn clorua cho BTCT trong môi trường biển Việt Nam
Trong tiêu chuẩn TCXDVN 327: 2004 “Kết cấu bê tông và bê tông cốt thép – Yêu cầu bảo vệ
chống ăn mòn trong môi trường biển” đã đưa ra các yêu cầu kỹ thuật về: thiết kế, lựa chọn vật liệu,
thi công nhằm đảm bảo khả năng chống ăn mòn cho kết cấu bê tông và bê tông cốt thép [6].
3.1. Về yêu cầu thiết kế
Tiêu chuẩn đã đưa ra bảng 1, quy định các yêu cầu tối thiểu về thiết kế áp dụng cho các công
trình có tuổi thọ tới 50 năm.
Bảng 1. Các yêu cầu tối thiểu về thiết kế bảo vệ kết cấu chống ăn mòn trong môi trường biển [6] Kết cấu làm việc trong vùng
Khí quyển
STT
Yêu cầu
thiết kế Ngập
nước (4)
Nước
lên
xuống Trên mặt nước
Trên bờ,
01 km cách
mép nước
Gần bờ,
130 km cách
mép nước
1 Mác bê tông , MPa(1) 30 40 40 50 30 40 50 25 30 40 25 30 40
2
Độ chống thấm nước,
at(2) 8 10 10 12 8 10 12 6 8 10 6 8 10
3
Chiều dày lớp bê tông
bảo vệ cốt thép, mm (3)
– Kết cấu ngoài trời
– Kết cấu trong nhà
– Nước biển
– Nước lợ cửa sông
50
40
40
30
70
60
60
50
60
50
50
40
40
30
50
40
40
30
30
25
40
30
30
25
25
20
4
Bề rộng khe nứt giới
hạn, mm (5)
– Kết cấu ngoài trời
– Kết cấu trong nhà
 0,1

 0,05

 0,1
 0,1
 0,1
 0,15
 0,1
 0,15
5 Cấu tạo kiến trúc
– Bề mặt kết cấu phẳng, không gây đọng nước, không gây tích tụ ẩm và
bụi,
– Hạn chế sử dụng kết cấu BTCT dạng thanh mảnh (chớp, lan can chăn
nắng),
– Có khả năng tiếp cận tới mọi vị trí để kiểm tra, sửa chữa.
Chú thích:
– Đối với kết cấu bê tông không có cốt thép ở vùng khí quyển biển không bắt buộc thực hiện yêu
cầu về mác bê tông theo bảng 1;
– Đối với kết cấu bê tông không có cốt thép ở vùng khí quyển biển không bắt buộc thực hiện yêu
cầu về độ chống thấm nước theo bảng 1;
– Chiều dày lớp bê tông bảo vệ cốt thép được tính bằng khoảng cách gần nhất từ mặt ngoài kết
cấu tới mặt ngoài cốt thép đai;
– Kết cấu trong đất ở vùng ngập nước và vùng nước lên xuống được bảo vệ tương tự như kết cấu
trong vùng ngập nước;
– Bề rộng khe nứt giới hạn cho trong bảng ứng với tác dụng của toàn bộ tải trọng, kể cả dài hạn
và ngắn hạn. Đối với kết cấu bê tông cốt thép ứng suất trước không cho phép xuất hiện vết nứt.
Tiêu chuẩn TCXDVN 327 : 2004 cũng đã khuyến cáo áp dụng các biện pháp bảo vệ hỗ trợ như
sau:
– Tăng mác bê tông thêm 10 MPa và độ chống thấm thêm một cấp hoặc tăng chiều dày lớp bê
tông (BT) bảo vệ thêm 20 mm;
– Tăng cường bảo vệ mặt ngoài kết cấu bằng một lớp bê tông phun khô có mác bằng bê tông kết
cấu dày tối thiểu 15mm;
– Tăng cường thêm lớp sơn chống ăn mòn phủ mặt cốt thép trước khi đổ bê tông;
– Quét sơn chống thấm bề mặt kết cấu, dùng chất ức chế ăn mòn cốt thép hoặc bảo vệ trực tiếp
cốt thép bằng phương pháp bảo vệ catốt.
3.2. Về yêu cầu vật liệu
– Xi măng: có thể sử dụng các loại với yêu cầu là C3A trong clinke ≤ 10%.
– Cát: cần khống chế lượng Cl-
hoà tan ≤ 0,05% khối lượng cát cho bê tông thường, thử theo
TCXDVN 262 : 2001.
– Đá: cần khống chế lượng Cl-
hoà tan ≤ 0,01% khối lượng cốt liệu lớn, thử theo TCXDVN
262:2001.
– Nước trộn bê tông: cần khống chế hàm lượng Cl-
≤ 500mg/l cho bê tông cốt thép thường.
– Phụ gia: tuỳ từng trường hợp cụ thể mà chỉ định sử dụng loại phụ gia phù hợp.
3.3. Về yêu cầu thi công
Công tác thi công các kết cấu BTCT trong môi trường biển được thực hiện theo TCVN 4453 :
1995 và các quy phạm chuyên ngành khác. Trong quá trình thi công ngoài các yêu cầu trên cần phải
tuân thủ một số yêu cầu kỹ thuật bổ sung được quy định rõ trong TCXDVN 327 : 2004 [6] gồm:
– Bảo quản và lắp dựng cốt thép, lắp dựng ván khuôn;
– Thi công bê tông;
– Khắc phục các khiếm khuyết trong quá trình thi công.
4. Giải pháp sử dụng canxi nitrít (CN) làm phụ gia ức chế ăn mòn cốt thép trong bê tông
Trong số các biện pháp bảo vệ hỗ trợ, việc sử dụng chất ức chế được xem là một biện pháp hiệu
quả, dễ áp dụng và phù hợp với điều kiện kỹ thuật và kinh tế của Việt Nam. Canxinitrít (CN) đã được
ứng dụng làm phụ gia ức chế ăn mòn cốt thép phổ biến trên thế giới khoảng 30 năm trở lại đây,
nhưng ở Việt Nam gần như CN chưa được ứng dụng cho tới năm 2002, nguyên nhân do chưa
nghiên cứu ứng dụng CN một cách đầy đủ trong điều kiện Việt Nam để có cơ sở vững chắc cho việc
ứng dụng rộng rãi trong thực tế. Trong những năm gần đây Viện KHCN Xây dựng tiếp tục đi sâu
nghiên cứu vấn đề này và bước đầu cho thấy việc ứng dụng CN làm phụ gia ức chế ăn mòn cốt thép
trong bê tông là một giải pháp đem lại hiệu quả cao, dưới đây tổng hợp một số kết quả nghiên cứu và
ứng dụng CN trong thực tiễn.
4.1. Xem xét cơ chế ức chế ăn mòn cốt thép của CN
Cơ chế ngăn ngừa ăn mòn cốt thép của CN đã được lý giải khá rõ ràng, theo đó CN bảo vệ ăn
mòn theo 4 phương pháp sau [3, 4, 5]:
a. CN oxi hoá sắt (II) oxít kém bền thành sắt (III) oxít theo phản ứng sau:
2Fe2+ + 2NO2

+ 2OH-
Fe2O3 + H2O + 2NOb.
Ion nitrite sẽ củng cố lớp màng thụ động sắt (III) oxit bằng cách hấp phụ lên bề mặt thép và làm
vững chắc thêm lớp màng thụ động này;
c. Ion nitrite còn phủ toàn bộ xung quanh các vị trí bị khuyết tật sắt (II) oxit, làm giảm tối đa khả
năng thâm nhập của ion clorua qua lớp màng bảo vệ;
d. Nếu ion Cltìm
được một vị trí khuyết tật trên bề mặt cốt thép, ăn mòn bắt đầu xảy ra. Khi đó
hợp chất clorua sắt (gỉ) sẽ tách khỏi bề mặt thép, các ion sắt (II) mới sẽ tiếp tục bị lộ ra trong môi
trường bê tông. Ion NO2

có thể nhanh chóng bao bọc quanh các ion sắt (II) mới bảo vệ chúng khỏi bị
sự xâm nhập của ion Cl-
.
4.2. Kết quả nghiên cứu khả năng ức chế ăn mòn cốt thép của CN trong phòng thí nghiệm
Bên cạnh những vấn đề đã được nghiên cứu khá rõ ràng trước đây như: cơ chế ức chế, ảnh
hưởng của CN đến cấu trúc hồ xi măng [3, 4, 5] các kết quả nghiên cứu đã làm rõ những vấn đề sử
dụng CN trong điều kiện thực tế của Việt nam đó là:
– CN về cơ bản không có ảnh hưởng xấu tới tính chất cơ lý của hỗn hợp BT và BT.
– Xác định được CN có tác dụng ức chế hoàn toàn quá trình bị gỉ cốt thép hoặc lùi thời điểm gỉ so
với trường hợp không có nó và hàm lượng hiệu quả của CN áp dụng trong bê tông đáp ứng tỷ lệ [Cl-
] /[NO2

] ≤ 2,0. Kết quả này cho phép tính toán được hàm lượng CN cần thiết phải đưa vào từ đầu để
phù hợp với tính chất xâm thực của ion Cl-
, tuổi thọ thiết kế và lượng NO2

dự kiến bị suy giảm trong
quá trình sử dụng.
– Hàm lượng NO2

trong bê tông bị suy giảm theo thời gian. Mức suy giảm này tỷ lệ nghịch với
mác bê tông và chiều dày lớp bảo vệ. Lượng NO2

tối thiểu để ức chế ăn mòn, cần tính tăng thêm
một lượng để bù vào lượng NO2

sẽ bị rửa trôi theo thời gian.
– Xác định CN có thể ức chế ăn mòn cốt thép ngay tại khe nứt bê tông và với các chiều rộng khe
nứt cụ thể, xác định được tỷ số chiều rộng khe nứt/ chiều dày lớp bảo vệ có CN để cốt thép không bị
gỉ lớn gấp 1,6 lần tỷ số này trong bê tông không có CN.
– Xác định CN hạn chế khả năng ăn mòn cốt thép ở vị trí tiếp giáp giữa bê tông mới và cũ khi sửa
chữa bê tông cốt thép bị ăn mòn.
4.3. Ứng dụng canxi nitrít làm phụ gia ức chế ăn mòn cốt thép trong thực tế
Từ những kết quả nghiên cứu thu được, Viện KHCN Xây dựng đã triển khai ứng dụng tại công
trình xây mới cầu tầu 20.000T cảng Nha Trang – Khánh Hoà được 800,8m3 bê tông chống ăn mòn
M40 cho kết cấu dầm, bản sàn cầu tầu vùng khí quyển trên mặt nước biển và công trình nâng cấp
cảng Cửa Cấm – Hải Phòng 845m3
bê tông chống ăn mòn M30 cho toàn bộ phần dầm dọc, dầm
ngang và bản sàn cầu tàu nằm trong vùng khí quyển trên mặt nước.
Quy trình thi công ứng dụng bê tông chống ăn mòn như sau:
– Kiểm tra vật liệu, chỉ tiêu kỹ thuật về tính công tác và cường độ bê tông chống ăn mòn tối thiểu
phải đạt yêu cầu kỹ thuật của bê tông thường theo chỉ định của thiết kế.
– Chế tạo bê tông chống ăn mòn trên dây truyền sản xuất bê tông thường tại hiện trường có sử
dụng CN.
– Thi công bê tông chống ăn mòn: tương tự như kỹ thuật thi công bê tông thường, trong đó chú
trọng việc đảm bảo chiều dày và độ đặc chắc của lớp bê tông bảo vệ và xử lý khuyết tật rỗng, rỗ
ngay sau thi công xong.
– Lắp đặt đầu đo ăn mòn trong phần bê tông ứng dụng để theo dõi dài ngày hiệu quả chống ăn
mòn và bảo vệ công trình: Mỗi cấu kiện lắp 2 đầu đo gắn chặt vào cốt thép chịu lực, tiến hành kiểm
tra cường độ bê tông và đo điện thế ăn mòn cốt thép tại thời điểm đầu khi bê tông được 28 ngày tuổi
và theo định kỳ 1 – 2năm /lần, tới 40 – 50 năm.
Kết quả kiểm tra 2 công trình sau 2 năm ứng dụng cho thấy: cường độ bê tông theo TCXDVN
239:2006 phù hợp mác thiết kế. Điện thế ăn mòn cốt thép dao động từ -50mV đến -150mV, theo tiêu
chuẩn TCXDVN 294: 2003, trong phạm vi điện thế trên cốt thép chưa bị ăn mòn. Như vậy bước đầu
cho thấy việc ứng dụng CN làm phụ gia ức chế ăn mòn cho bê tông đạt kết quả tốt.
5. Kết luận
– Ăn mòn clorua cốt thép trong kết cấu BTCT là dạng ăn mòn nguy hiểm và phổ biến đối với công
trình BTCT vùng biển nước ta;
– Các giải pháp chống ăn mòn cho kết cấu BTCT trong môi trường biển đã bước đầu được cụ thể
hoá trong TCXDVN 327:2004;
– Trên cơ sở tổng kết ứng dụng thực tiễn cho thấy sử dụng CN làm phụ gia ức chế ăn mòn cốt
thép trong bê tông là một trong số những giải pháp đơn giản, hiệu quả và có tính thực tiễn cao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. CAO DUY TIẾN, PHẠM VĂN KHOAN, LÊ QUANG HÙNG và CTV. Báo cáo tổng kết dự án KTKT
Chống ăn mòn và bảo vệ các công trình bê tông và bê tông cốt thép vùng biển. Viện KHCN Xây
dựng, 11/2003.
2. NGUYỄN NAM THẮNG. Nghiên cứu ứng dụng canxi nitrít làm phụ gia ức chế ăn mòn cốt thép
cho bê tông cốt thép trong điều kiện Việt Nam. Luận án Tiến sĩ kỹ thuật, Viện KHCN Xây dựng,
Hà Nội, 2007.
3. Berke N. S., Pfeifer D., Donal W. and Thomas G. W. Protection Against Chloride – Induced
Corrosion. Concrete International, December, pp 45 – 55, 1998.
4. Roberge P. R., Handbook of Corrosion Engineering. McGraw-Hill, pp 1129, 2000.
5. Lin Luo. Influence of Corrosion Inhibitors on Concrete Properties: Microstructure, Transport
Properties and Rebar Corrosion. Ghent University, Belgium, pp 234, 2006.
6. TCXDVN 327: 2004 Kết cấu bê tông và bê tông cốt thép – Yêu cầu bảo vệ chống ăn mòn trong môi
trường biển.

print

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

%d bloggers like this: