PHƯƠNG PHÁP SỬA CHỬA MẶT ĐƯỜNG BÊ TÔNG – XI MĂNG

print

PHƯƠNG PHÁP SỬA CHỬA MẶT ĐƯỜNG BÊ TÔNG – XI MĂNG

1. Vệ sinh mặt đường: gồm dọn sạch mặt đường (bùn, bụi, mảnh bê tông vụn bong ra, vật lạ …. ) nhận biết các hư hỏng nhỏ và khắc phục chúng, công tác vệ sinh phải tiến hành trong suốt năm.
2. Sửa chữa mặt đường: Gồm loại trừ, khắc phục những hư hỏng của các tấm bê tông riêng biệt hoặc của từng mảng, từng khu vực mặt đường. Tuỳ theo khối lượng sửa chữa mà phân ra sửa chữa thường xuyên và sửa chữa lớn.
3. Sửa chữa thường xuyên gồm ngăn chặn và loại trừ kịp thời các hư hỏng của các tấm bê tông riêng biệt hoặc của những đoạn mặt đường nhỏ diện tích không quá 1% tổng diện tích mặt đường sân bay (thay các tấm hỏng, sửa lại móng, chữa các tấm cập kênh nhau đến 3 cm, sửa chữa các vết nứt, sứt cạnh, ổ gà, rỗ v..v…). Sửa chữa thường xuyên phải tiến hành đều đặn suốt năm tại những khoảng trống giữa các chuyến bay.
3.1. bằng trám và tạm thời 
Các khu vực bê tông bị vỡ có thể được vá lại bằng BTN như là một biện pháp tạm thời. Việc sửa chữa tạm thời những chỗ vỡ góc, nứt xiên, trương nở và rạn nứt có thể sử dụng các quy trình sau:
– Dùng cưa bê tông cắt theo chiều sâu của tấm.
– Sử dụng dụng cụ khí nén phá bê tông đến tận lớp móng dưới hay nền đường và bốc hết mảnh bê tông.
– Cho thêm vật liệu xuống lớp móng dưới hay nền đường rồi lèn chặt.
– Tưới nhựa thấm bám lên bề mặt lớp móng dưới.
– Quét nhựa dính bám lên các mặt cạnh của tấm bê tông.
– Đổ một lớp BTN không dày quá 75 mm lên.
– Dùng đầm rung và các công cụ khác để đầm lớp bê tông này.

Sửa chữa theo một phần độ sâu (hoặc xử lý ổ gà) thì cắt hết độ sâu (tối thiểu 75 mm), quét lớp nhựa số 1 lỏng, đổ lớp BTN nóng và lu lèn chặt. Các phương tiện có thể đi lại ngay sau khi vá xong.

4. Sửa chữa lớn là sửa chữa mặt đường trên những diện tích lớn gồm:  
– Sửa chữa những đoạn mặt đường bị biến dạng hoặc thay thế những tấm bê tông kèm theo cả sửa lại móng trên diện tích đến 25% tổng diện tích mặt đường sân bay.
– Làm bằng phẳng lại những đoạn mặt đường bị lún chiếm diện tích quá 10% tổng diện tích mặt đường sân bay bằng cách rải hỗn hợp BTN hay các vật liệu gia cố chất kết dính.
– Làm bằng phẳng lại và tăng cường mặt đường bằng cách rải một lớp mới bằng BTN.
– Sửa chữa các hư hỏng biến dạng bề mặt mặt đường (bong, ổ gà, rỗ, sứt, mẻ) với diện tích hư hỏng chiếm quá 25% tổng diện tích mặt đường sân bay. Chiều sâu tối thiểu để sửa chữa mặt đường BTXM là 5cm, nếu sửa chữa ở mức nông hơn thì chỗ sửa chữa sẽ bị phá hủy nhanh. Trường hợp cần sửa chữa mặt đường ở mức nông hơn 5cm thì tốt nhất là sử dụng vữa epoxy.
– Khoảng cách giữa các lần sửa chữa lớn phụ thuộc vào số lần hoạt động cho phép của mặt đường theo thiết kế và số lần hoạt động của máy bay trong một năm.
N
T = —– (năm)
n
T – Thời hạn sửa chữa lớn (Số năm cho 1 lần sửa chữa lớn)
N – Số lần hoạt động cho phép của máy bay trên mặt đường (theo thiết kế).
n – Số lần hoạt động của máy bay trong một năm.
Sửa chữa lớn thường là 15 – 20 năm/1 lần đối với mặt đường bê tông xi măng cốt thép đổ liền khối, 10 – 14 năm/ lần đối với mặt đường BTXM đổ liền khối và 5 – 8 năm /1 lần đối với mặt đường BTXM lắp ghép.
Khi sửa chữa lớn phải ngừng bay tại các khu vực phải sửa chữa.

PHƯƠNG PHÁP SỬA CHỬA MẶT ĐƯỜNG BTN
4.1. Bảo dưỡng nhằm duy trì trạng thái làm việc của mặt đường, những thông số kỹ thuật của mặt đường (độ dốc, độ bằng phẳng, độ chắc của mặt đường…) 
– Mùa khô tưới nước để chống bụi cho máy bay.
– Mùa nóng phát hiện những đoạn nhựa chảy.
– Những đoạn hỏng phải hạn chế máy bay chuyển động và kịp thời sửa chữa ngay. Sau khi sửa phải kiểm tra lại và nghiệm thu rồi mới cho khai thác.
– Đặc biệt chú ý thoát nước mặt sau khi có mưa to, những vết nứt hay chỗ đọng nước phải xử lý ngay để chống nước thấm nhập xuống nền móng.
4.2. Sửa chữa thường xuyên gồm loại trừ các loại vết nứt, lún, lượn sóng, vệt hằn bánh xe, ổ gà, sói lở,v..v.. kèm theo sửa chữa nền móng, với diện tích không quá 1% tổng diện tích mặt đường sân bay, lèn chặt các mặt đường đá dăm đen, sửa chữa các chỗ tiếp giáp giữa mặt đường mềm và phần bằng đất của khu bay, sửa chữa thường xuyên phải đều đặn suốt năm trên cơ sở quan sát thường xuyên mặt đường.
4.3. Sửa chữa lớn mặt đường mềm gồm 
– Sửa chữa những đoạn nứt, mặt đường bị biến dạng (đào bỏ phần hỏng, sửa móng và rải lớp mới), với diện tích đến 30% tổng diện tích mặt đường sân bay.
– Làm bằng phẳng mặt đường và tăng cường mặt đường hiện có bằng cách rải lớp phủ mới.
– Xử lý các đoạn bị lún, thụt.
– Thay lớp hao mòn hay phủ lớp mặt mới.
– Sửa chữa mặt đường gia cố đá dăm, đá sỏi cấp phối, để có thể dùng làm móng cho mặt đường BTN hay mặt đường cứng.
– Sửa chữa lớn tiến hành định kỳ 4 đến 8 năm một lần đối với mặt đường BTN và mặt đường đá dăm đen; 3 đến 5 năm một lần đối với mặt đường đá dăm và đá sỏi không thấm nhập; 2 năm một lần đối với mặt đường đất gia cố đá dăm, đá sỏi.
Sửa chữa lớn mặt đường mềm thông thường bao gồm cả tăng cường mặt đường gồm xử lý sơ bộ mặt đường hiện có bị hư hỏng và phủ lớp tăng cường.
Sửa chữa mặt đường mềm phải làm vào thời tiết khô ráo.
Để việc sữa chữa mặt đường mềm được đều đặn và kịp thời phải có dự trữ vật liệu sửa chữa như đá, nhựa và các trang thiết bị cần thiết hàng năm.
4.4 Sửa chữa các hư hỏng điển hình mặt đường BTN
4.4.1. Sửa chữa khu vực võng (vùng lõm):  
* Trường hợp không bị lún nền:
– Xác định mức độ khu vực bị võng. Khoanh vùng khu vực đó lại
– Cắt thẳng mép chỗ định vá và phay, mài hoặc đục khu vực đã xác định tới độ sâu tối thiểu là 5 cm.
– Làm sạch toàn bộ khu vực.
– Phủ toàn bộ nhũ tương nhựa đường lên khu vực đã làm sạch.
– Đổ BTN xuống khu vực lún trũng để đưa nó về độ cao ban đầu sau khi đầm. Nếu vá sâu hơn có thể đổ thành nhiều lớp để thuận tiện cho việc đầm chặt.
– Lèn thật chặt chỗ vá bằng xe lu hoặc đầm tay rung.
* Trường hợp nền bị lún:
– Đào bỏ kết cấu mặt đường và phần nền mặt đường bị lún đến nền đất cứng và đầm chặt đất nền đảm bảo K³98.
– Tuỳ thuộc kết cấu mặt đường cũ, lưu lượng và tải trọng khai thác, điều kiện khí hậu, thuỷ văn để quyết định kết cấu phần thay thế.
– Nếu thời tiết khô hanh thì có thể hoàn trả bằng phần đất nền đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật. (Lưu ý chia từng lớp dày £ 20cm để đầm đạt độ chặt K ³ 98).
– Nếu khu vực ẩm ướt hoặc mùa mưa thì dùng cát, tốt nhất là cát hạt thô hoặc đất, cát có gia cố chất kết dính để thay thế.
– Hoàn trả lớp móng trên và lớp mặt đường như kết cấu của mặt đường cũ.
4.4.2. Sửa chữa khu vực có vệt lõm. Quy trình sửa chữa như sau:  
* Trường hợp nền không bị lún: 
– Xác định mức độ lún. Khoanh vùng khu vực cần sửa chữa.
– Phay hoặc mài khu vực đã xác định tới độ sâu khu vực cần vá, tối thiểu 5 cm.
– Làm sạch toàn bộ khu vực.
– Phủ toàn bộ nhũ tương nhựa đường lên các mặt đường khu vực định vá bằng vật liệu asphalt.
– Đổ BTN xuống khu vực cần sửa chữa và đầm lèn đến cấp độ ban đầu. Nếu vá sâu hơn có thể đổ thành nhiều lớp để thuận tiện cho việc lèn chặt.
– Lèn chặt vật liệu asphalt dùng để vá bằng xe lu hoặc đầm tay rung.
* Trường hợp nền bị lún cục bộ: 
Khi nền đường bị sình lún cục bộ, kết cấu móng mặt đường bị phá vỡ một phần hay hoàn toàn, đôi khi bùn đất trồi cả lên mặt đường. Quy trình xử lý:
– Đào bỏ phần mặt, móng và nền bị lún đến nền đất cứng và đầm chặt đất nền đảm bảo K ³ 98.
– Tuỳ thuộc kết cấu áo đường cũ, lưu lượng và tải trọng khai thác, điều kiện khí hậu, thuỷ văn để quyết định kết cấu phần thay thế.
– Nếu thời tiết khô hanh thì có thể hoàn trả bằng phần đất nền đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật. (Lưu ý chia từng lớp dày £ 20cm để đầm đạt độ chặt K ³ 98).
– Nếu khu vực ẩm ướt hoặc mùa mưa thì dùng cát, tốt nhất là cát hạt thô để thay thế.
– Lớp móng dưới của mặt đường có thể dùng đá thải (với hàm lượng đất dính £ 6%) chia thành từng lớp dày £ 20cm đầm chặt.
– Hoàn trả lớp móng trên và lớp mặt đường như kết cấu của mặt đường cũ.
4.4.3. Sửa chữa khu vực có biến dạng sóng (dồn, xê dịch) 
– Làm nóng chỗ lượn sóng.
– Dùng bàn là sắt là bằng và đầm chặt.
4.4.4. Sửa chữa khu vực phồng – gồ 
– Nếu trên diện tích nhỏ thì gọt bằng đỉnh phồng – gồ sau đó lấp bằng BTN nóng trên diện tích sữa chữa và lèn chặt.
– Nếu trên diện tích lớn, phải thay lớp BTN đã lão hoá trên toàn diện tích hỏng, quy trình sửa chữa như sau:
+ Bóc bỏ lớp bề mặt và lớp nền cho đến nền cứng. Trong một số trường hợp phải bóc bỏ cả lớp nền đường. Dùng loại cưa phù hợp để cắt chỗ vá trên mặt đường theo hình chữ nhật hoặc hình vuông.
+ Thay vật liệu lớp nền với số lượng tương đương với số vật liệu dỡ bỏ đi. Nhưng nếu thấy vật liệu lớp nền có vấn đề thì có thể thay bằng vật liệu phù hợp hơn. Lèn chặt các lớp đã thay.
+ Quét nhựa dính bám lên bề mặt thẳng đứng của mặt đường hiện hữu
+ Rải BTN rồi lu lèn.
4.4.5. Sửa chữa khu vực có vi lún – gờ (biến dạng do nền móng bị phá hoại hay yếu biểu hiện ở những đoạn lún, thụt kèm theo bề mặt bị nứt nẻ dạng da cá sấu). 
– Đào vứt bỏ những phần hỏng của lớp BTN.
– Xử lý nền (móng) bằng cách thay thế bằng loại đất dễ thoát nước được đầm chặt.
– Đổ một lớp BTN mới và lèn chặt.
4.4.6. Sửa chữa các vết nứt:  
a. Nứt dưới 1 mm (dạng sợi tóc hay chân chim)
– Làm sạch vết nứt sang hai bên, mỗi bên 5 mm.
– Quét nhựa số 1 đun nóng đến 1000C – 140 0C hoặc nhựa lỏng từ một đến hai lần bằng chổi lông vào vết nứt .
– Dùng xi măng hay bột đá phủ lên nhựa rồi dùng bay miết cho bằng.
b. Nứt rộng từ 1 mm đến 5mm thường là vết nứt xuyên suốt chiều dày của lớp BTN. 
– Mở rộng hai bờ thành vết nứt hết chỗ bị bong nở.
– Làm sạch vết nứt bằng hơi ép hay chổi sắt.
– Đổ nhựa số 2 đun nóng .
c. Nứt rộng trên 5 mm:
– Làm sạch vết nứt bằng khí nén. Nếu cần thì xoi rộng vết nứt trước khi thổi sạch. Cũng có thể thêm chất chống cỏ mọc. Sau khi làm sạch thì đổ hỗn hợp dùng cho khe nối.
d. Nứt rộng trên 10 mm:
– Làm như mục c. Nhưng đổ hỗn hợp dùng cho khe nối đến 2/3 chiều sâu vết nứt, còn lại phía trên dùng BTN nguội lấp kín. Trên cùng dùng cát mịn nóng miết lên và là bằng bàn là sắt nóng.
4.4.7. Sửa chữa các vết nứt dạng parabôn 
Bóc bỏ khu vực bị hỏng và vá bằng BTN trộn tại xưởng. Các bước cụ thể như sau:
– Bóc bỏ khu vực bị phá hủy một lớp sâu chừng 30 cm. Dùng cưa máy cắt chỗ định vá theo chiều thẳng đứng và đường thẳng.
– Dùng chổi và khí thổi làm sạch chỗ định vá.
– Phủ một lớp nhựa dính bám.
– Đổ hỗn hợp BTN nóng tại xưởng vào chỗ vá rồi lèn chắc như mặt đường xung quanh.
– Lu lèn BTN bằng lu bánh sắt hoặc bánh hơi cho đến khi mặt đường có cùng độ cao với mặt đường xung quanh.
4.4.8. Sửa chữa các vết nứt da cá sấu 
Sửa chữa lâu dài bằng cách vá có thể được thực hiện như sau:
– Bóc bỏ lớp bề mặt và lớp nền cho đến nền cứng. Trong một số trường hợp phải bóc bỏ cả lớp nền đường. Dùng loại cưa phù hợp để cắt chỗ vá trên mặt đường theo hình chữ nhật hoặc hình vuông.
– Thay vật liệu lớp nền với số lượng tương đương với số vật liệu bốc đi. Nhưng nếu thấy vật liệu lớp nền có vấn đề thì có thể thay bằng vật liệu phù hợp hơn. Lèn chặt các lớp đã thay.
– Quét nhựa dính bám lên bề mặt thẳng đứng của mặt đường hiện hữu.
– Rải BTN rồi lu lèn.
– Nếu cần thiết thì cưa và chèn các khe nối xung quanh chu vi khu vực được vá.
`4.4.9. Sửa chữa khu vực bị bong lớp mặt bê tông nhựa khỏi nền, móng  
– Đào bỏ phần bong, tạo thành hố có thành thẳng đứng với nền, móng.
– Quét sạch hố.
– Quét nhựa số 1 đun lỏng lên đáy và thành hố.
– Lấp đầy bằng BTN.
– San, đầm lèn kỹ.
– Rải cát mịn hay xi măng rồi là bằng.
4.4.10. Sửa chữa các loại ổ gà 
– Dùng phấn, sơn đánh dấu những chỗ hỏng bằng những đường song song và thẳng góc với tim mặt đường lấn vào phần còn tốt 3 đến 5 cm.
– Dùng máy cắt bê tông cắt thẳng mép chỗ đánh dấu và đào sâu đến hết chiều sâu của ổ gà.
– Lấy hết vật liệu rời rạc trong khu vực vừa cắt, quét, chải sạch bụi đảm bảo chỗ vá sạch, khô.
– Tưới nhựa dính bám (lượng nhựa từ 0,5- 0.8kg/m2) lên chỗ vá sửa, lưu ý tưới cả dưới đáy và xung quanh thành chỗ vá và chờ cho nhựa khô.
– Rải hỗn hợp BTNN, san phẳng kín chỗ hỏng và cao hơn mặt đường cũ theo hệ số lèn ép 1,4.
– Dùng lu rung loại nhỏ 0,8T lu lèn 3-4 lần/điểm, tốc độ từ 1,5-2km/h.
4.4.11. Xử lý mặt đường bị dầu loang, đọng gôm cao su:  
– Việc sửa chữa lâu dài khu vực bị dầu loang bao gồm việc bóc bỏ bề mặt bị ảnh hưởng rồi thay thế bằng BTXM hay BTN, phủ lên đó một lớp nhũ than-nhựa đường hay các lớp áo khác có khả năng chịu dầu.
– Xử lý mặt đường bị đọng gôm cao su: Bóc bỏ cao su tồn đọng bằng phun nước áp lực lớn hoặc hóa chất không độc hại.
4.4.12. Sửa chữa khu vực bị rỗ bề mặt: thường là do ít nhựa trong hỗn hợp BTN. 
– Làm sạch phạm vi rỗ.
– Tưới nhựa lỏng 0,8 – 1 kg/m2.
– Phủ bằng cát mịn khô 5 – 8 kg/m2.
– Lèn chặt.
4.4.13. Sửa chữa khu vực bị rộp, phồng
– Đục bỏ phần bị rộp phồng đến độ sâu tối thiểu 3cm.
– Làm sạch phần mới đục.
– Dùng BTN lấp đầy chỗ đã đục, đầm chặt.
– Dùng cát mịn hay xi măng rải lên rồi xát miết bay.
– Là nóng chỗ tiếp giáp với mặt đường xung quanh.
(*) Khi có điều kiện có thể dùng máy phay hoặc mài bề mặt để bóc bỏ lượng asphalt thừa sâu chừng 3-6 mm trên bề mặt. Quy trình sửa chữa dùng cát hoặc hỗn hợp nóng như sau:
– Dùng xỉ đã sàng lọc, cát, hoặc đá đã sàng lọc, làm nóng ở nhiệt độ 150oC và trải với liều lượng 4-9 kg/m2.
– Ngay sau khi trải xong dùng xe lu bánh hơi để đầm.
– Khi nguội, dùng chổi quét bỏ những hạt rời.
– Lặp lại quá trình này nếu thấy cần thiết.
4.4.14. Sửa chữa mặt đường BTN bị bào mòn (“bạc đầu”):  
Mặt đường BTN sử dụng lâu ngày dần dần sẽ bị mất lớp bảo vệ, trơ đá cơ bản. Hiện tượng này gọi là mặt đường BTN bị “bạc đầu”. Xử lý tạm thời bằng cách:
Láng nhựa hai lớp dưới hình thức nhựa nóng, lượng nhựa 2,7-3,0kg/m2 (tuỳ theo mức độ hư hỏng của mặt đường), tương tự như đã nêu trong mục 1.4.1. hoặc láng hai lớp bằng nhựa nhũ tương a xít tương tự như đã nêu trong mục 1.4.2.4.2. – Tiêu chuẩn kỹ thuật bảo dưỡng thường xuyên đường bộ được ban hành theo Quyết định số 1527/QĐ-BGTVT ngày 28/5/2003 của Bộ trưởng Bộ GTVT.
Trường hợp sửa chữa cơ bản thì phủ lại mặt đường một lớp mới đáp ứng yêu cầu khai thác.

5. Sửa chữa các dạng hư hỏng điển hình mặt đường BTXM: 
5.1. Sửa chữa vết nứt dọc, ngang, chéo: Tuỳ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vết nứt có biện pháp và quy trình sửa chữa phù hợp.
5.2. Vết nứt có chiều rộng dưới 5 mm, không xuyên suốt chiều dày của tấm bê tông. Các loại vết nứt này ít khi gây hư hại mặt đường. Quy trình sửa chữa những hư hỏng này như sau:
– Làm sạch vết nứt bằng chổi sắt hay hơi nén.
– Làm sạch diện tích bao quanh vết nứt.
– Dùng nhựa đặc loại 60/70 đun nóng pha dầu hoả, tỷ lệ dầu/nhựa là 25/75 theo trọng lượng, sử dụng ở nhiệt độ 70-800C rót vào khe nứt.
– Miết mặt vết nứt bằng bột đá.
Trong trường hợp nghiêm trọng, các vết nứt này có thể bị mẻ tạo các mảnh rời có thể làm hỏng cánh quạt và động cơ phản lực. Biện pháp sửa chữa đối với các vết nứt này là phải bóc ngay phần mặt đường bị nứt gãy sau đó phủ một lớp kết dính gốc vô cơ mỏng. Quy trình sửa chữa như sau:
– Dùng cưa cắt chỗ bê tông bị nứt sâu 5 cm rộng 5 cm.
– Dùng búa, khoan hơi…bóc tách toàn bộ lớp bê tông hỏng sau đó dùng khí nén thổi sạch chỗ đã bóc tách.
– Dùng nước áp suất lớn rửa sạch, để khô rồi đổ chất hàn gắn xuống.
– Xử lý mặt đường bằng vữa xi măng để bảo đảm độ kết dính giữa mặt đường hiện hành với lớp bê tông mới. Đổ lớp vữa xi măng 2 mm rồi dùng bàn chải hay chổi quét đều trước khi đổ chất kết dính xuống.
– Nếu chỗ sửa chữa tiếp giáp với khe nối thì đặt một miếng gỗ mỏng hay một miếng kim loại bôi chất chống dính với khe nối sau đó đổ hợp chất vào chỗ mặt đường cũ cần sửa rồi lèn chặt. Hợp chất này phải thoát được bọt khí và được thiết kế sao cho bê tông không bị sụt và muốn vậy phải lèn chặt sau khi đổ vào chỗ cần sửa.
– Sau khi đổ hợp chất phải đầm lèn cho phù hợp với các khu vực xung quanh.
– Sau thời gian bê tông đủ cường độ thì chèn các khe nối bằng vật liệu chèn khe trước khi cho phương tiện đi qua.
5.3. Nứt khe rãnh (chiều rộng trên 5 mm, xuyên suốt chiều dày của tấm bê tông). Quy trình chữa như sau:
a) Sửa chữa tạm thời:
o Mở rộng kẽ nứt đến 1,5 – 2 cm và sâu 3 -5 cm bằng búa đục tay hay bằng máy hơi nén, làm sạch kẽ nứt bằng chổi sắt hay hơi nén, sau đó trét matit nhựa vào tương tự như mục 1.6.1. (a) nêu trên.
o Nếu tấm bê tông bị sứt, vỡ với diện tích nhỏ thì trám lại các vị trí sứt vỡ bằng hỗn hợp matít nhựa hoặc hỗn hợp bêtông nhựa nguội hạt mịn.

b) Sửa chữa cơ bản: 
Quy trình như sau:
– Xẻ rãnh với độ rộng và độ sâu theo khuyến cáo của nhà sản xuất chất chèn khe nứt. Độ rộng phải đủ để vật liệu dãn nở và co lại cùng với chuyển động của mặt đường. Các vật liệu đổ nóng cần có độ rộng bằng độ sâu. Vật liệu silicone đòi hỏi độ rộng gấp đôi độ sâu. Độ rộng tối thiểu là 10 mm để đảm bảo đủ độ rộng cho việc lấp chất chèn khe vào.
– Dùng cát và khí nén làm sạch khe cần chèn. Rãnh xẻ phải khô và không có bụi bặm để độ kết dính của chất chèn khe tốt hơn.
– Đặt một đoạn dây polyetthylene xuống đáy khe định chèn để tạo hố ngăn và ngăn cho chất chèn khe dính với đáy khe nứt. Việc kết dính không đúng cách sẽ làm cho sự co dãn của vật liệu chèn khe bị hạn chế có thể dẫn đến sự hư hỏng sớm. Đoạn dây này trơ về mặt hóa học và được thiết kế có chiều rộng lớn hơn chiều rộng khe nối một chút để lấp kín khe nứt.
– Lấp khe nứt bằng vật liệu chèn khe ở mức thấp hơn bề mặt 6 mm. Nếu lấp chất chèn khe đầy quá thì nó dễ bị bánh máy bay hoặc bánh xe làm hỏng.
5.4. Nứt ở góc tấm: Tấm bị nứt ở góc (ở chỗ góc giữa hai khe nối cắt nhau) với các vết nứt, gãy rộng 20mm đến 40mm và các vết nứt liên quan đến mất sự nâng đỡ của các lớp nền là biểu hiện của sự phá hủy kết cấu. Quy trình sửa chữa các vết nứt gãy này như sau:
– Cắt sâu bằng cưa ở các khe thi công. Nên cắt cách giới hạn của vết nứt một khoảng cách ít nhất là 60 cm để tạo thành hố cần sửa chữa có hình chữ nhật đối với các vết nứt rộng cắt ngang tấm. Đối với các nứt góc khác thì cắt hố sửa chữa tại các góc vỡ theo hình vuông.
– Dùng búa hơi móc vật liệu ở chỗ cắt lên. Sau đó dùng cưa cắt thêm một đường bên trong chu vi đã cắt để mở rộng chỗ cắt rồi dùng tay móc vật liệu rời lên. Trong khi sửa chữa, cố gắng hạn chế mức tối thiểu sự tác động đến đất và vật liệu của các lớp ở bên dưới.
– Phục hồi nền đường hay lớp móng dưới lên đến độ cao theo yêu cầu
– Sử dụng các thanh thép giằng có gai Φ14 (và Φ16 cho các tấm mặt đường có độ dày hơn 30 cm) ở trên bề mặt tấm chính. Lắp đặt bằng cách khoan vào mặt đường sau đó dùng nhựa Epoxy để kết dính. Bố trí các thanh giằng ở những khoảng cách bằng nhau, nhưng không được bố trí cách nhau quá 60 cm. Khi bố trí các thanh giằng, tránh không để đầu của nó trùng lên đầu các thanh giằng hay các thanh truyền lực khác.
– Sử dụng các thanh truyền lực ở những chỗ khe nối song song với hướng chuyển động của phương tiện. Ở khu vực sân đỗ và ở những nơi phương tiện đi lại tạo thành đường xiên đối với các khe nối cần phải lắp thanh truyền lực ở cả hai phía mặt khe. Lắp đặt thanh truyền lực bằng cách khoan vào mặt đường và bố trí ở khoảng cách ít nhất một lần khoảng cách thanh truyền lực cho phép. Bố trí thanh truyền lực ít nhất là ở khoảng cách một thanh ở cách các góc của khe nối. Bôi dầu vào đầu các thanh truyền lực trước khi lấp đầy bằng bê tông.
– Lắp các tấm không hấp thụ vào các khe nối dọc theo các tấm bê tông. Khi sửa chữa nhiều tấm bê tông phải lắp đặt các tấm không hấp thụ vào các khe nối.
– Lấp đầy khu vực sửa chữa bằng bê tông và đầm nén bê tông trong các giới hạn sửa chữa. Khi đầm nén phải chú trọng đến các tấm bê tông khác hiện có, tránh sự phân tầng của vữa bê tông.
– Sau khi sửa chữa bê tông, tháo bỏ các tấm ngăn và chèn lại các vật liệu chèn khe.
5.5. Sửa chữa tấm bê tông bị phá huỷ do giãn nở 
Quy trình sửa chữa như sau:
– Dùng cưa cắt mép bê tông ở các chỗ bị vỡ với độ sâu sấp xỉ 15 cm
– Dùng các dụng cụ khí nén phá bê tông ở chỗ vỡ cho xuống đến hết chiều dày tấm rồi dỡ bỏ hết những mảnh bê tông đó đi.
– Đổ thêm vật liệu xuống lớp dưới, nếu cần, rồi lèn chặt.
– Đối với mặt đường bê tông cốt thép, sử dụng các kỹ thuật liên kết để gắn kết bê tông mới với bê tông cốt thép cũ. Sử dụng các thanh truyền lực để liên kết.
– Làm ướt nền đường dưới và các mặt cạnh của rãnh xẻ cũ.
– Đổ bê tông vào khu vực định vá. Bê tông trộn sẵn có thể được sử dụng nếu thỏa mãn các yêu cầu và đảm bảo tiết kiệm. Chú ý sử dụng bê tông đạt cường độ nhanh để có thể đưa mặt đường vào sử dụng sớm.
– Hoàn thiện bề mặt sao cho nó phù hợp với mặt đường hiện hành.
– Ngay sau khi hoàn thiện phải bảo dưỡng bằng cách tưới nước hoặc dùng hợp chất tạo màng để giữ ẩm cho bê tông trong quá trình đông cứng.
5.6. Sửa chữa tấm bê tông bị dập. 
Nếu tấm bê tông bị dập thì phải thay cả tấm. Tuân theo các quy trình áp dụng cho việc sửa chữa sự phá huỷ mép tấm do giãn nở nêu trên, trừ việc móc vật liệu không ổn định ở nền đường và thay thế bằng vật liệu được lựa chọn. Cải thiện điều kiện thoát nước bằng cách lắp các đường ống để thoát nước trong trường hợp nền thoát nước kém.
5.7. Tấm bê tông bị lún thụt (Cập kênh – bậc)
Tấm bê tông bị cập kênh do lún thụt hoặc tạo thành bậc do mẻ mép tấm. Nếu tấm bê tông bị lún, thụt nhưng còn nguyên vẹn hoặc chỉ bị mẻ mép tấm thì quy trình sửa chữa như sau:
Cách 1 :  
– Khoan lỗ xuyên suốt bề dày tấm bê tông.
– Dùng kích nâng tấm lên bằng vị trí cũ.
– Dùng hơi ép bơm vữa cát, xi măng vào giữa bê tông và nền.
Có thể sử dụng các quy trình kích nâng tấm bê tông cho việc sửa chữa này. Khi kích nâng phải dùng bơm áp suất để bơm lớp vữa xuống dưới mặt đường qua các lỗ khoan trên tấm bê tông. Việc làm này sẽ tạo ra áp suất nâng từ đáy tấm bê tông lên. Áp suất nâng sẽ giảm khi khoảng cách đến lỗ bơm vữa tăng lên. Bằng biện pháp này người ta có thể nâng một góc của tấm bê tông lên mà không cần nâng cả tấm. Do việc kích nâng tấm bê tông đòi hỏi phải có thiết bị chuyên dụng và người có kinh nghiệm thực hiện nên việc làm này tốt nhất là do các nhà thầu có chuyên môn thực thi. Ngoài ra có thể sử dụng công nghệ vữa nở để vừa gia cố nền vừa nâng tấm bê tông. Quy trình cụ thể tuân theo thiết kế biện pháp sửa chữa tùy theo thiết bị và vật liệu sửa chữa cụ thể.
Cách 2: 
Dỡ hẳn tấm bê tông ra ngoài.
Xử lý nền hay móng dưới tấm bê tông.
– Đặt lại (đổ lại) tấm bê tông.
Lựa chọn cách 1 hay cách 2 bằng so sánh kinh tế và diễn biến tại chỗ.
Nếu tấm bê tông bị lún vỡ thì quy trình sửa chữa như sau:
– Phá bỏ tấm bê tông, chuyển đi nơi khác.
– Xử lý nền móng bằng cấp phối hay cát gia cố đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
– Đổ lại tấm bê tông mới.
Trường hợp bị tạo thành bậc chỉ do mẻ mép tấm thì sửa chữa theo quy trình muc 5.7. Trường hợp tấm bê tông vừa bị lún thụt vừa bị mẻ mép tấm thì sau khi sửa chữa theo cách 1 thì sửa phần bị mẻ theo quy trình mục 5.7.
5.8. Sửa chữa tấm bê tông có hiện tượng phụt.  
– Trường hợp do nền lún sụt, xói mòn…, lúc có nước làm cho các hạt mịn phụt lên trên bề mặt qua các khe hoặc các vết nứt thì phải sửa chữa như trường hợp tấm bê tông bị lún thụt .
– Trường hợp do chất lượng vật liệu chèn khe tồi thì sửa chữa khe nối theo quy trình mục 8.2.6.10.
5.9. Sửa chữa tấm bê tông bị mẻ.  
a) Sửa chữa tạm thời: 
– Đục bỏ phần bị mẻ, tạo thành đứng ở các chỗ mẻ.
– Quét sạch bằng chổi sắt hay hơi nén.
– Quét lớp nhựa số 1 đun lỏng.
– Lấp đầy bằng BTXM hay BTN tuỳ theo chiều rộng cạnh chỗ bị mẻ lớn hơn 0,5 m hay nhỏ hơn 0,5 m.
b) Sửa chữa cơ bản: 
– Dùng cưa cắt chỗ bê tông bị mẻ sâu 5 cm rộng 5 cm.
– Dùng búa, khoan hơi…bóc tách toàn bộ lớp bê tông hỏng sau đó dùng khí nén thổi sạch chỗ đã bóc tách.
– Dùng nước áp suất lớn rửa sạch, để khô rồi đổ chất hàn gắn xuống.
– Xử lý mặt đường bằng vữa xi măng để bảo đảm độ kết dính giữa mặt đường hiện hành với lớp bê tông mới. Đổ lớp vữa xi măng 2 mm rồi dùng bàn chải hay chổi quét đều trước khi đổ vật liệu vá xuống
– Đặt một miếng gỗ mỏng hay một miếng kim loại bôi chất chống dính với khe nối sau đó đổ hợp chất vào chỗ mặt đường cũ cần sửa rồi lèn chặt. Hợp chất này phải thoát được bọt khí và được thiết kế sao cho bê tông không bị sụt và muốn vậy phải lèn chặt sau khi đổ vào chỗ cần sửa.
– Sau khi đổ hợp chất phải đầm lèn cho phù hợp với các khu vực xung quanh.
– Sau thời gian bê tông đủ cường độ thì chèn các khe nối bằng vật liệu chèn khe trước khi cho phương tiện đi qua.
5.10. Sửa chữa tấm bê tông bị bong bề mặt 
a, Bong nông (sâu dưới 5 mm) quy trình chữa như sau: 
– Đục hết chỗ bong đến bề mặt còn tốt.
– Rải nhựa số 3 đun nóng lên bề mặt bong.
– Rải lớp bột đá hay cát thô hay sỏi sạn nhỏ.
– San phẳng và lăn nén.
b, Bong sâu (sâu từ 5 mm trở lên). Quy trình chữa như sau:
– Đục hết chỗ bong đến bề mặt tốt.
– Quét nhựa lót số 1.
– Vá bằng BTN nóng hạt mịn, rắc đá mặt lên rồi lăn nén.
5.11. Sửa chữa bề mặt bê tông bị giảm ma sát do bẩn, đọng gôm hay bị mài nhẵn (bào mòn) 
– Xử lý phục hồi khả năng ma sát cho mặt đường BTXM có thể được thực hiện bằng việc làm lại mặt đường, phay, mài, rửa bề mặt…Có thể xem xét khả năng tạo đường rãnh khi thấy bề mặt mất khả năng ma sát. Việc xẻ rãnh không ảnh hưởng đến kết cấu mặt đường nhưng lại làm nước đọng ở chỗ tiếp giáp giữa mặt đường và bánh xe có thể thoát được. Như vậy việc xẻ rãnh cũng hạn chế đến mức tối thiểu tiềm năng đọng nước trong mùa mưa.
– Trường hợp bề mặt BTXM bị giảm ma sát do bẩn hoặc đọng gôm cao su: Dùng nước áp lực mạnh hoặc hóa chất không độc hại để rửa sạch hoặc bóc bỏ lớp gôm cao su đọng lại.
– Trường hợp bề mặt BTXM bị mài nhẵn xẩy ra trên một diện rộng thì cần xem xét việc phay hay mài lại toàn bộ mặt đường. Làm lại mặt đường hoặc tăng cường bằng BTXM hoặc BTN cũng có thể được sử dụng để khắc phục tình trạng này.
5.12. Sửa chữa khe nối 
Hàng năm phải kiểm tra chất lượng hỗn hợp chèn khe nối và thay thế hỗn hợp đã lão hoá bằng hỗn hợp mới.
– Hỏng vật liệu chèn khe nối. Việc chuẩn bị tái chèn khe nối được thực hiện theo trình tự sau đây:
+ Dùng cày hay cưa moi hết chất kết dính tại các khe nối. Hoặc ít nhất cũng phải moi bỏ chất kết dính cũ ở mức đủ để lấp đầy chất chèn khe mới vào. Nếu trong khe nối có cỏ dại mọc thì phải nhổ cỏ và/hay phun thuốc trừ cỏ dại.
+ Khi thay đổi loại vật liệu chèn khe cần móc hết vật liệu chèn khe cũ, làm mới lại mặt cạnh khe. Việc làm này sẽ làm thay đổi phần chèn khe cả về bề rộng lẫn độ sâu. Nên tham khảo ý kiến của nhà sản xuất vật liệu chèn khe về việc sử dụng vật liệu này theo hình khối mới. Nếu dùng cưa để làm mới phần chèn khe thì phải dùng nước rửa khe ngay sau khi cưa. Móc hết các mảnh vụn và thổi sạch phần chèn khe.
+ Nếu sử dụng cùng loại vật liệu chèn khe nối thì phải thổi sạch rãnh của khe bằng cát hoặc bằng nước dưới áp lực lớn.
+ Ngay trước khi chèn lại khe phải dùng không khí sạch không dính dầu thổi sạch bụi bẩn ở chỗ khe nối.
+ Lắp đặt đoạn dây ngăn cách mới.
+ Chèn khe nối bằng hợp chất nóng hay nguội. Bố trí vật liệu chèn khe như đã nêu ở mục 8.2.6.2 (b).
Trường hợp sửa chữa tạm thời hoặc khối lượng nhỏ có thể thực hiện theo quy trình sau:
o Dùng chổi rễ hoặc hơi ép làm sạch bụi bẩn lấp trong khe co dãn và xì khô đảm bảo khô, sạch.
o Trét hỗn hợp matít nhựa ở nhiệt độ thích hợp theo hướng dẫn của nhà sản xuất vào khe co dãn, miết chặt để có cao độ bằng với bề mặt tấm bêtông.
Ghi chú : Trong trường hợp này, hỗn hợp matít nhựa có thể sản xuất bằng các loại vật liệu và theo tỷ lệ gồm nhựa đường loại 60/70 là 50%; bột đá 35%; bột cao su 15%.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Liên hệ ngay với chúng tôi để nhận được báo giá tốt nhất Bỏ qua